Discount – Chiết khấu giảm giá – Phần 3: Thuế

Câu chuyện chiết khấu của người nông dân Phần 1

Câu chuyện chiết khấu của người nông dân Phần 2

—————————————————————————————–

Câu chuyện chiết khấu của người nông dân giờ đây xuất hiện “người thứ 3” – Cục Thuế. Chiết khấu – đồng nghĩa với việc giảm giá – đồng nghĩa với việc hy sinh chi phí – liệu có giảm thuế?

Nếu người nông dân ở Việt Nam, người nông dân sẽ phải làm quen với hai loại thuế mà sẽ chịu ảnh hưởng bởi chiết khấu thương mại và thanh toán đó là thuế Giá trị gia tăng (GTGT) đánh trên giá trị hàng hóa mua vào và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đánh trên lợi nhuận tạo ra trong kỳ.

Chiết khấu thương mại được trừ thẳng vào giá niêm yết của hàng hóa. Vì vậy, trên hóa đơn, thuế GTGT sẽ được tính lên phần giá trị hàng hóa sau khi trừ chiết khấu (điểm 22, điều 7, Mục 1, Chương II, Thông tư 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 hướng dẫn Luật thuế GTGT) . Ví dụ người nông dân bán bò 2tr/con. Nhưng do chiết khấu nên giờ người nông dân chỉ bán 1tr8/con bò. Thuế GTGT sẽ tính trên giá 1tr8 chứ không phải giá 2tr như trước. Cũng do chiết khấu thương mại làm giảm giá bán, nó đương nhiên sẽ làm giảm doanh thu, lợi nhuận vì thế bị thu hẹp một chút và do vậy gián tiếp làm giảm thuế TNDN phải trả.

Chiết khấu thanh toán ko ảnh hưởng đến thuế GTGT kể cả trong trường hợp % chiết khấu được ghi trên hóa đơn hay thỏa thuận giao ước bằng bằng các hình thức khác giữa hai bên. Bản chất của chiết khấu thanh toán là thúc đẩy hoạt động trả tiền hàng, vì vậy chiết khấu thanh toán luôn được tính trên tổng giá trị hóa đơn đã có thuế GTGT. Ví dụ người nông dân bán con bò giá 2tr/con. Thuế GTGT 10% vậy tổng hóa đơn là 2.2tr/con (2tr+0.2tr GTGT). Nếu gã lái buôn được hưởng chiết khấu thanh toán 5% thì chiết khấu thanh toán sẽ là 0.11tr (=5% x 2.2tr).

Đối với thuế TNDN, phần chiết khấu thanh toán vốn được hạch toán vào chi phí tài chính có được coi là chi phí giảm trừ thuế? Câu trả lời là có nếu nó, cùng với các chi phí quảng cáo khuyến mại khác không vượt quá 10% (*) tổng số chi phí hợp lệ được chấp nhận theo một danh sách “dài dằng dặc” trong quy định của thông tư 130/2008/TT-BTC về thuế TNDN (điểm 2.19, mục IV, phần C).

(*) hoặc 15% với công ty mới thành lập trong 3 năm đầu)

——————————————————————————-

Tài liệu tham khảo:

– TT130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 về thuế TNDN

Thông tư 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 hướng dẫn Luật thuế GTGT

Discount – Chiết khấu giảm giá – Phần 2: Hạch toán

Image

(Hình minh họa từ Internet)

Câu chuyện dài kỳ về người nông dân bán bò có chiết khấu phần 1 ở đây

Bán được hàng, thu được tiền, giờ đây, kế toán của người nông dân sẽ phải làm gì?

Đối với chiết khấu thương mại, kế toán ko có bút toán hạch toán riêng biệt. Khi hạch toán bút toán chi phí giá vốn hàng bán (COGS), kế toán ghi sổ giá trị hàng hóa sau khi trừ phần giảm giá. Nghĩa là nếu bán từng con bò với giá 2 triệu thì giờ hạch toán với giá 1 triệu 8 mỗi con.

Có người hỏi tại sao không ghi nhận vào chi phí bán hàng mà lại giảm trừ vào giá vốn hàng bán? Người nông dân nói, nếu gã lái buôn chỉ mua 2-3 con bò thì không đủ hòa vốn. Nhưng nếu mua đến 20 con bò thì người nông dân sẽ có lãi lớn. Đó là lý do mà gã lái buôn chỉ được chiết khấu khi mua với số lượng lớn.

Cụ thể hơn, đó là mối quan hệ giữa số lượng (quantity) và điểm hòa vốn (profit margin). Khi bán được càng nhiều hàng hóa, thì chi phí cố định (như máy móc, nhà xưởng…) trên 1 đơn vị sản phẩm sẽ càng giảm. Và nhờ vậy, giá của hàng hóa sẽ giảm. Ví dụ có chi phí cố định (CPCĐ) là 1000. Nếu bán được 1 sản phẩm thì CPCĐ/1 sp là 1000. Nhưng nếu bán được 100 sản phẩm, thì CPCĐ/1 sp chỉ còn 10.

Phần giảm giá này, ngay lập tức được người nông dân sử dụng làm chiết khấu thương mại. Vì vậy, bản chất, chiết khấu thương mại không phải là chi phí phát sinh thêm để thúc đẩy việc bán hàng (kiểu như mua 1 tặng 1 hay tặng quà, tặng phiếu mua hàng…) mà là phần tiết kiệm chi phí khi bán được NHIỀU hàng.

Đối với chiết khấu thanh toán, kế toán sẽ hạch toán phần chiết khấu này vào chi phí tài chính. Lại một câu hỏi lớn: Tại sao? Quay lại câu chuyện của người nông dân. Để nhận được tiền sớm, người nông dân chấp nhận hy sinh thêm một con bò.Khi cầm số tiền trên tay, người nông dân làm gì? Anh ta gửi một phần vào ngân hàng thu lãi tiết kiệm. Một phần để trả nợ người bán cỏ cho nông trại bò. Phần còn lại đầu tư vào sản xuất. Tiền là Vua. Và tiền là công cụ tài chính duy nhất làm tăng tính thanh khoản của công ty, để đầu tư mở rộng kinh doanh làm tăng doanh thu. Bỏ ra một ít chi phí để có tiền sớm rõ ràng là một quyết định tài chính thông minh. Vì vậy, chi phí tài chính là một sự lựa chọn hợp lý!

——————————————————————–

Discount – Chiết khấu giảm giá – Phần 3: Thuế

Discount – Chiết khấu giảm giá – Phần 1: Định nghĩa

Image

(Hình minh họa từ Internet)

Ở Việt Nam, nói đến Discount – Chiết khấu giảm giá, nhiều người hay nghĩ đến …cước điện thoại di động. Bởi đơn giản, cứ đến hẹn lại lên, “niềm vui nho nhỏ gói trong cái tin nhắn con con” lại báo cho người sử dụng biết họ được giảm 50% cước di động trả trước.

Chiết khấu, thực chất là một hình thức khuyến mại với mục đích xúc tiến, tăng doanh thu, xả hàng tồn, thu tiền nhanh… tại những thời điểm nhất định.

Vô vàn các hình thức chiết khấu nhưng trong hạch toán kế toán, chiết khấu được phân chia thành hai loại chính: chiết khấu thương mại (Trade discount) và chiết khấu thanh toán (Cash/ Settlement discount).

Có một câu chuyện về gã lái buôn và người nông dân. Một hôm nọ, gã lái buôn muốn mua đàn bò của người nông dân. Người nông dân nói:”Nếu anh mua từ 20 con bò trở lên, tôi sẽ tặng anh 2 con bò nữa”. Gã lái buôn đồng ý nhưng xin khất nợ người nông dân 10 ngày vì anh ta không mang đủ số tiền. Người nông dân lại nói: “Nếu anh trả tôi trong vòng 2 ngày tới, tôi sẽ tặng thêm cho anh một con bò nữa”. Gã lái buôn gật đầu và quay trở về nhà. 2 ngày sau, anh ta đến nhà người nông dân, trả tiền và sở hữu 23 con bò.

Người nông dân không biết chiết khấu là gì nhưng bằng việc “hy sinh” 3 con bò, anh ta đã bán được đến 20 con bò và nhận được tiền ngay trong vòng 2 ngày. 2 con bò “hy sinh” khi gã lãi buôn mua hàng với số lượng lớn (thay vì mua 2-3 con riêng lẻ) được gọi là chiết khấu thương mại. 1 con bò “hy sinh” để được nhận tiền trong thời gian sớm nhất được gọi là chiết khấu thanh toán.

Trên thực tế, người bán thường giảm giá trực tiếp trên giá hàng bán cho người mua khi áp dụng chiết khấu thương mại. Ví dụ khi mua với khối lượng lớn, giá sẽ là 1tr8/con bò thay vì giá thông thường là 2tr/con. Đối với chiết khấu thanh toán, người bán thường đưa ra một tỷ lệ % giảm tổng số tiền thanh toán. Ví dụ, nếu trả trong vòng 10 ngày thì khách hàng sẽ được giảm 5% trên tổng số tiền thanh toán.

——————————————————————–

Discount – Chiết khấu giảm giá – Phần 2: Hạch toán

SoD – Phân quyền trong kế toán

Image(Hình minh họa từ Internet)

SoD – Segregation of Duty là một thuật ngữ khá quen thuộc đối với bất kỳ một công ty nào khi vận hành bộ máy kế toán. Hầu hết các sinh viên kế toán khi nhớ đến thuật ngữ này đều hiểu rằng, sự phân quyền nghĩa là một người không được kiêm nhiệm nhiều công việc “quan trọng” cùng một lúc, hoặc một công việc phải có ít nhất  2 người cùng “ngó vào” để đảm bảo sự minh bạch.

Cụ thể hơn, với mục đích “phòng bệnh hơn chữa bệnh” (Preventive) và kiểm tra, kiểm soát các lỗi sai (Detective), SoD luôn đảm bảo sự phân quyền giữa 3 vai trò:

– Sự phê duyệt cho một nghiệp vụ (Approval)

– Hạch toán, ghi sổ, đối chiếu sổ sách kế toán của một nghiệp vụ (Accounting/Reconciling)

– Quản lý tài sản phát sinh từ nghiệp vụ đó (Asset custody)

Ví dụ thế này nhé. Người yêu cầu mua tài sản phục vụ mục đích của phòng ban mình sẽ không được là người người phê duyệt việc mua tài sản đó. Người phê duyệt việc mua đó sẽ không là người hạch toán hay cầm tiền mang đi mua tài sản. Cái này rõ ràng là để phòng trừ các “sự cố” gian lận có thể xảy ra (Preventive). Bạn hãy thử tưởng tượng xem, nếu 2 vai trò trên được thực hiện theo kiểu “2 trong 1”, có nghĩa là nếu tài sản có giá trị 5 tỷ, tôi tự “có nhu cầu”, tự phê duyệt và tự cầm …8 tỷ đi mua. Ô, ai biết đó là đâu?

Thêm nữa, việc phê duyệt mua tài sản cần có 2 người trở lên (để đảm bảo rằng việc này là “trong sáng”, và vì trong sáng nên không cần giấu diếm!). Ghi chép, đối chiếu sổ sách cũng cần 2 người, người thực hiện và người kiểm tra. Việc thu nhận tài sản cũng cần có 2 người, người nhận và người theo dõi việc nhận. Cái này người ta gọi là để phát hiện, kiểm soát các lỗi sai (Detective).

Bạn tôi có hỏi, cái này hay quá, nhưng sao vẫn thấy rất nhiều công ty mắc lỗi với SoD, thâm chí có công ty còn chả có SoD luôn. Thế này nhé, công ty tôi là công ty mới thành lập, ngoài tôi là giám đốc làm mọi việc, tôi chỉ thuê thêm một cô cũng kiểu “đa di năng” như tôi. Lấy đâu ra người mà SoD? Cô nhân viên làm gì, tôi biết, tôi làm gì…tôi biết. Công ty vẫn hoạt động hiệu quả. Thuê thêm người, chi phí tăng, lợi nhuận liệu có tăng không?

Lại nhớ hồi trước đi kiểm toán một ngân hàng quốc doanh lớn có áp dụng công nghệ thông tin để phân quyền quản trị. Sự phê duyệt được thực hiện bằng cách để trưởng phòng đăng nhập có username và password bí mật. Nhưng sau khi tìm hiểu thì tá hỏa ra rằng, username và pass của trưởng phòng được “phổ cập” cho…cả phòng vì nhiều lúc bận quá, trưởng phòng thường nhờ người khác “ra tay”!

Vậy thì “nguy hiểm” quá nhỉ. Đúng là “nguy hiểm” nhưng nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn không áp dụng triệt để SoD. Vì tiếc thời gian, tiếc công sức, cho rằng việc này hết sức “vẽ vời” hoặc vì không hiểu hết tầm quan trọng của SoD cũng như những điều kiện hạn hẹp khác về nhân lực và chi phí. Quan trọng hơn cả là vì SoD không được luật hóa. Nghĩa là pháp luật không cấm việc vi phạm này. SoD mãi vẫn được coi là một công cụ đắc lực của hệ thống kiểm soát nội bộ. Giống như một ngày đẹp trời, công ty bạn lắp một cái máy camera ngay trên máy tính của bạn. Tôi đồ rằng, cuối tháng, bạn (chứ phải không ai khác) sẽ được tuyên dương nhiệt liệt vì tinh thần lao động xuất sắc. Nhưng khi vặt nghéo cái camera đi thì sao? Bạn còn làm việc hiệu quả không? Đương nhiên! Bạn còn làm việc chăm chỉ không? Đương nhiên! Ai biết? Chỉ bạn mới biết! Đương nhiên!🙂

Khấu hao tài sản cố định – Phần 2: TSCĐ không sử dụng

Image

(Hình minh họa từ Internet)

Một người bạn của mình đã có một câu hỏi rất hay sau khi đọc xong phần 1 bài Khấu hao tài sản cố định. Vậy nếu tôi có TSCĐ, nhưng nếu vì một lý do nào đó mà tài sản không được đưa vào sử dụng thì có được tính khấu hao không? Tài sản ko sử dụng thật đấy nhưng để không thì cũng bị hao mòn vật lý và tụt hậu về công nghệ (mà người ta vẫn hay nói là “obsolete”). Tôi sẽ tính khấu hao chứ hay sẽ “nhắm mắt làm ngơ”?

Câu trả lời là có, khấu hao vẫn phải trích kể cả khi TSCĐ không đưa vào sử dụng trong mọi trường hợp!

Chuẩn mực kế toán quốc tế về TSCĐ IAS 16 viết “the depreciation does not cease when the asset is unused or has retired from active use, unless it is repaid in full” (Khấu hao TSCĐ vẫn được tính khi TSCĐ không sử dụng hoặc dừng hoạt động, trừ khi đã khấu hao hết)

Thông tư 203/2009/TT-BTC, điểm 1, điều 9, có nói “tất cả các TSCĐ hiện có của DN đều phải trích khấu hao trừ các trường hợp sau đây: a, b, c, d…” Trong các trường hợp a, b, c, d… này không có trường hợp nào đề cập đến TSCĐ không đưa vào sử dụng hoặc tạm ngừng hoạt động. Việc tính khấu hao này, rõ ràng đảm bảo mục đích của Khấu hao là lượng hóa những hao mòn vật lý và lạc hậu của tài sản.

Tuy nhiên, (vẫn có “tuy nhiên”), kế toán cần phải có một cái đầu “tỉnh” khi xác định chi phí hợp lý, hợp lệ để tính thuế TNDN. Tại tiết a, điểm 2.2, Mục IV, phần C, thông tư 130/2008/TT-BTC lại nói các chi phí khấu hao của TSCĐ không sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh KHÔNG được coi là chi phí hợp lý, hợp lệ khi tính thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Tức là chi phí này sẽ bị loại ra, trừ khi tài sản này tạm dừng trong thời gian ngắn hạn dưới 12 tháng (đây là điểm mới được Bộ Tài Chính chính thức cho phép trong Công văn 10589/BTC-TCT ngày 12 tháng 8 năm 2010).

Túm lại, kế toán phải hạch toán chi phí khấu hao TSCĐ cho tài sản không sử dụng vào chi phí của DN nhưng khi tính thuế TNDN thì phải loại bỏ chi phí này ra trừ khi TSCĐ tạm dừng trong thời gian ngắn dưới 1 năm.

Câu chuyện có vậy mà quả là phức tạp! Hãy là những người kế toán “thông thái” nhé!🙂

———————————————————————-

Tài liệu tham khảo:

– IAS 16 – Property, Plant and Equipment

– Thông tư 203/2009/TT-BTC về quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ

– Công văn 10589/BTC-TCT ngày 12 tháng 8 năm 2010

Khấu hao tài sản cố định – Phần 1: Thời điểm bắt đầu tính khấu hao?

(Hình minh họa từ Internet)

Đây có thể là một câu hỏi dễ dàng với một số kế toán nhưng lại có thể là một bài học “đáng nhớ” với một vài kế toán khác. Vậy câu trả lời là gì? Đọc đến đây, bạn nghĩ đến thời điểm nào?

1. Thời điểm mua tài sản cố định?

2. Thời điểm tài sản cố định sẵn sàng cho việc sử dụng?

Nhớ lại thời xách ba lô vi vu xuống các khu công nghiệp để kiểm toán, mình đã gặp nhiều trường hợp tính khấu hao tài sản cố định ngay khi mua về. Nghĩa là, khi tài sản cố định được ghi nhận vào Sổ theo dõi chi tiết tài sản cố định (tiếng tây là Fixed assets Register), khấu hao sẽ được tính ngay. Trong sổ chi tiết này, dễ dàng nhận thấy cột ngày mua tài sản (ngày hóa đơn hay ngày nhận tài sản) và ngày tính khấu hao trùng nhau, và điều này vẫn được coi là hiển nhiên. Thậm chí có chị kế toán còn bảo mình, khi chị nhập dữ liệu về TSCĐ vào, “máy” tự động tính khấu hao chứ chị có…tính đâu?

Để biết rõ thời điểm nào mới chính xác, hãy quay lại câu hỏi “tại sao phải trích khấu hao”? Theo các quan điểm kế toán hiện đại, thì nguyên tắc chi phối việc trích khấu hao là nguyên tắc phù hợp (Matching concept). Theo nguyên tắc này, chi phí của tài sản bỏ ra để sản xuất ra sản phẩm của kỳ nào phải “phù hợp” với doanh thu do tài sản đó tạo ra trong kỳ đó. Đó là lý do nếu ghi nhận vào chi phí toàn bộ giá trị tài sản vào năm đầu tiên khi mua, trong khi tài sản có thể tạo ra doanh thu trong suốt thời gian sử dụng, sẽ không hợp lý. Việc trích khấu hao cũng là một cách để phản ánh hao mòn vật lý của tài sản cố định (TSCĐ) vốn chỉ “cảm nhận” mà không lượng hóa được trong suốt thời gian sử dụng hữu dụng.

Quay lại câu hỏi lớn ở trên. Liệu có nên trích khấu hao ngay từ ngày mua TSCĐ không? Câu trả lời là đuợc, nếu tại ngày đó, tài sản cố định đã sẵn sàng cho việc sử dụng hay tiếng tây là “ready for use”. Vì rõ ràng, nếu tài sản chưa sử dụng được thì cũng không thể tạo ra doanh thu vì vậy cũng ko thể có chi phí khấu hao “phù hợp” với doanh thu chưa được tạo ra đó. Vậy nếu tài sản mới được được nhập về, chưa lắp ráp, hoặc đã lắp ráp nhưng chưa chạy thử, thì kể cả đã được ghi vào sổ chi tiết thì kế toán vẫn phải chờ đến thời điểm “ready” đó mới trích khấu hao.

“Nói có sách, mách có chứng”. Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS16 – Property, Plant and Equipment nói: “The depreciation of an asset begins when it is available for use, that is, when at the location and conditions necessary to be able to operate as intended by management”. Chuẩn mực nhà ta nói gì? Nhà ta thì hơi lòng vòng một chút như thế này:

– Điểm 9, điều 9, phần C, Thông tư 203/2009/TT-BTC hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ nói “Việc trích hoặc thôi trích khấu hao TSCĐ được thực hiện bắt đầu từ ngày (theo số ngày của tháng) mà TSCĐ tăng hoặc giảm. Doanh nghiệp thực hiện hạch toán tăng, giảm TSCĐ theo quy định hiện hành về chế độ kế toán doanh nghiệp.

– Theo chuẩn mực kế toán việt nam VAS 03 – TSCĐ hữu hình, hai trong 4 nguyên tắc bắt buộc cần có để ghi tăng TSCĐ là “Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy”  và “Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó”. Khi một tài sản mới mua về nhập kho, chưa qua chạy thử, thậm chí mới chỉ là những linh kiện rời rạc thì chắc chắn 2 điều kiện này không thể đảm bảo. Thậm chí có những trường hợp, kế toán phải làm việc với bộ phần kỹ thuật và sản xuất để xác định xem có thể hợp nhất các bộ phận riêng biệt của TSCĐ không, hay có thể tách những bộ phân riêng lẻ ra để tính khấu hao riêng, do thời gian sử dụng hữu dụng của các linh kiện này khác nhau.

Như vậy, một tài sản giá trị lớn với nhiều linh kiện phức tạp sẽ ngốn không ít thời gian lắp đặt chạy thử, có khi phải đến hàng tháng trời. Do đó, việc “nhỡ tay” trích trước một vài tháng khấu hao sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Đó là không kể, có những tài sản lại được cấu thành từ nhiều bộ phận riêng biệt, hoạt động tách rời và có thời gian sử dụng hữu ích khác nhau. Trong các trường hợp như vậy, sự cẩn trọng được đòi hỏi cao hơn bao giờ hết.

———————————————————————-

Tài liệu tham khảo:

– IAS 16 – Property, Plant and Equipment

– VAS 03 – Tài sản cố định hữu hình

– Thông tư 203/2009/TT-BTC về quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ

Accounting Art ư?

Image

Ngày trước, khi còn nhỏ tuổi, tôi có một cô bạn thân có mẹ là kế toán. Chả hiểu sao, trong đầu óc “ngây thơ” khi đó, tôi đã nghĩ đó quả thật là một công việc nhàm chán. Trước ngưỡng cửa đại học, kinh qua 12 năm học toán với các công thức, số liệu cứng nhắc, phức tạp và loằng ngoằng, “kế toán” càng trở thành một một ngành học “rất-khó-nuốt-trôi”. Nhưng kết cục là tôi vẫn trải qua 4 năm mài đũng trên giảng đường chỉ có kế toán, gần 3 năm nữa cho chứng chỉ kế toán ACCA, 6 tháng cho CPA Vietnam, và chắc còn nhiều cái AA nữa trong tương lai, ai mà biết?

Kế toán là một môn khoa học. Nếu bạn search từ khóa “accounting science”, Google có thể nhả cho bạn nửa triệu kết quả trong 0.08s. Nhưng “accounting art”, nghệ thuật ư? Có lẽ bạn chỉ tìm thấy 5 định nghĩa trên Google là xác thực nhất. Tuy nhiên, tôi vẫn tin rằng, với bất kỳ ai học chuyên sâu về kế toán và làm kế toán, đều có một suy nghĩ giống tôi. Kế toán thực sự là nghệ thuật. Nghệ thuật biến các con số vốn khô khan và không mang nhiều ý nghĩa trở thành những câu chuyện kinh doanh, lợi nhuận, cạnh tranh, đầu tư đầy màu sắc, ly kỳ và sống động. Những con số kỳ diệu có thể làm bạn thăng hoa khi đằng sau nó là một kết quả kinh doanh ấn tượng nhưng phút chốc có thể làm bạn hụt hẫng khi trong những màu sắc tươi sáng kia, vẫn có những gam màu xỉn.

Lây ví dụ nhé!

ImageBạn nhìn thấy gì ở những con số vô tri này? Thú thật, tôi chả thấy gì cả🙂

Đây thì sao?

Image

À, một doanh nghiệp làm ăn khá tốt, có doanh thu còn có cả lợi nhuận nữa. Nhưng lợi nhuận hơi ít, chỉ khoảng 6% doanh thu. Vậy nghĩa là chi phí bỏ ra khá lớn. Ẩn đằng sau đó có lẽ là một câu chuyện ly kỳ và đầy thú vị về các khoản chi tiêu.

ImageMột bức tranh đầy đủ và thật sắc nét! Dù đã từng được đánh giá là có triển vọng khi có doanh thu và lợi nhuận trong năm nay, khả năng của DN có thể vượt qua cơn “bĩ cực” ko mấy dễ dàng khi đang phải gánh một khoản nợ ngắn hạn khổng lồ khi số tiền trong túi vỏn vẹn có 3 con số. Công ty sẽ bị khai tử ư? Hay sẽ sáp nhập vào một công ty khác? Hay sẽ sống lay lắt qua ngày và bán bớt tài sản đi để trả nợ?… Tưởng tượng sơ sơ cũng có dăm ba kết cục. Chả phải bạn đang được xem một cuốn phim với đoạn kết mở hay sao?

Vậy đó, những con số khô khan nhưng đầy màu sắc. Nó có thể kể cho bạn một câu chuyện dài kỳ, cho bạn xem một bộ phim sống động với kết thúc giật gân. Những con số biết nói. Những con số mà bạn có thể cảm nhận bằng cảm xúc và tri thức. Chả phải đó là một nghệ thuật ư?